vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:

Cầu hóp là một cây cầu cổ, vị trí ở giữa cánh đồng Hóp, cách cổng làng thôn 1: 400m, Cầu hóp có kiến trúc độc đáo gồm một gian chia ba. Nều cầu cao 1m, có 8 chiếc cột đá xanh hình tròn nhẵn bóng, mái cầu làm bằng gỗ đinh bền chắc, lớp ngói, khuôn viên cầu trong 1 khu rộng khoảng 2 sào Bắc bộ.

Trước cửa cầu có một giếng nước hình tròn, quanh năm trong mát, cạnh giếng nước có một ban thờ lộ thiên để hương khói vào ngày tuần hàng tháng. Sân Cầu có hai cây cổ thụ, một cây đa và một cây xoài rợp bóng xum xuê, ngày nay cầu Hóp vẫn được nhân dân trong làng giữ gìn bảo vệ



Canh Nậu là một xa ở phía Nam huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây cũ. Phía bắc giáp Hương Ngải, Phía Nam nối tiếp với xã Dị Nậu, Đông giáp thôn Thượng Hiệp xã Tam Hiệp ( Huyện Phúc Thọ), Tây giáp xã Chàng Sơn. Diện tích khu dân cư  khoảng 39,5ha ( tính đến năm 2000 – bi h thì chưa rõ ^^~) xóm làng ở trên 1 khu đất khá vuông vắn, diện tích đất canh tác gần 1022 mẫu Bắc Bộ (367,92 ha tính đến năm 2000- bi h chắc nhỏ hơn nhiều rồi :D).



Nhớ một thời mon men ra chỗ mấy cô chú làm gạch để xin đất về nặn, một thời mà báo chí, chính quyền can thiệp cưỡng chế để phá hủy hết lò gạch vì làm ô nhiễm môi trường. mà giờ đây chỉ còn là phế tích
Lò gạch cũ Canh Nậu: khu lò gạch bắt đầu xuất hiện từ đầu những năm 1990. "Ban đầu chỉ có một số lò nhỏ, về sau hàng chục lò đua nhau mọc lên, phủ kín cả một vùng rộng lớn của đồng Cầu Duối"








DANH NHÂN VĂN HOÁ CỦA QUÊ HƯƠNG

Phó bảng Nguyễn Đức Tân: Sinh năm Giáp Tuất (1814) tại Nậu 3 (thôn 3). năm 20 tuổi đỗ tú tài khoa Giáp Ngọ (1834). 12 năm sau tại khoa thi năm Bính Ngọ (1846)
Đỗ cử nhân. 2 năm sau tại khoa thi năm Mậu Thân (1848) đỗ Phó bảng. Khi đó Ông mới 35 tuổi được cử giữ chức Hành Tẩu ở Viện Hàn lâm cung đình Huế dưới triều đại vua Tự Đức nhà Nguyễn. Làm việc tại Viện Hàn lâm một năm từ 1848 đến 1849, sau đó Ông được bố về làm tuần phủ đồng tri phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá. Đến năm Nhâm Tý (1852) ông được đổi về tuần phủ đồng tri ở tỉnh Thái Bình. ông bị bệnh và mất tại tỉnh Thái Bình năm Quí Sửu (1853), thọ 40 tuổi….

canh nậu, thạch thất, danh nhân, tú tài, phó bảng, canh nậu comunity

Tú tài Đỗ Khắc Thận : Thuộc dòng họ Đỗ Đăng ở thôn 3 ông sinh năm Tân Mùi (1811). Năm 31 tuổi tại khoa thi năm Nhâm Sửu đời vua Thiệu Trị năm thứ nhất (1841), đô tú tài. Năm 38 tuổi, tại khoa thi năm Mậu Thân, đời vua TỰ ĐỨC năm thứ 2 (1848) đỗ tú tài lần thứ 2  dân làng gọi  ông là Tú Kép. Năm 42 tuổi tại khoa thi năm Nhâm Tý, TỰ ĐỨC thứ 7 (1852) đỗ tú tài lần thứ 3. Dân làng gọi Ông là Tú Mến. Sau ông mở trường dạy học. góp phần mở mang dân trí cho quê hương. Ông mất năm 1860, thọ 49 tuổi.  

Tú tài Nguyễn Đức Khiêm: Sinh năm Tân Hợi (1850) tại Nậu Nhì (thôn 2) đồ tú tài khoa thi năm Tân Mão (1891). Cụ về nhà mở trường dạy học và đã giúp dân biên soạn các quy định về nghi lễ ở đình cũng như ở từng gia đình, tham gia xây dựng nhà thờ họ Nguyễn Đức, Viết câu đối ở các công trình công cộng như cổng làng, đình, chùa, quán, nhà thờ họ, làm tiên chỉ chăm lo việc cúng lễ cho dân. Cụ tạ thế năm Quí Hợi (1923) thọ 73 tuổi. Ở một làng quê nghèo như Canh Nậu thuở xưa, có được một người đỗ cử nhân rồi phó bảng và hai cụ đỗ tú tài nho học là rất quý hiếm. Các cụ là những người có trí lớn, thông minh, ham học và đã có những đóng góp cho quê hương, đất nước tiêu biểu cho truyền thống văn hoá, là niềm tự hào.và những tấm gương cho các thế hệ.



Đình làng Canh Nậu: được xây dựng năm 1570 trên 422 năm là 1 ngôi đình cổ, đẹp và có giá trị nghệ thuật cao. Ngôi đình tọa lạc trên một mảnh đất giữa làng gồm nhiều hạng mục công trình:

-          Đại đình: là một ngôi nhà lớn, với những cột lim to. Các kết cấu như câu đầu, xà bẩy, đều có những bức trạm trổ tinh vi. Nhiều bức cuốn trạm cảnh lao động, sinh hoạt vui chơi của nhân dân như cày bừa, cấy gặt, đấu vật, đánh võ, múa hát. 

               Đại đình có nhiều hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng, nền lát sạp gỗ, xung quanh có bao lớn, gian giữa sap hạ thấp gọi là lòng giếng.

            Đại bái (Nhà lễ lớn) Trước đại đình, là ngôi nhà 3 gian mái trồng diêm 2 tầng 8 mái.

-          Tả mạc, hữu mạc: Là hai dãy nhà ngói dài ở hai bên sân, cuối mỗi dãy nhà có 2 dùng làm nơi để kiệu.
-          Bên ngoài đình: Hai bên có 2 ngôi điếm, trước cửa có 1 ao rộng, giữa có một gò đất nỏi hình tròn, hằng năm vào các dịp lễ tết được dung làm nơi đấu vật, nên được gọi là gò vật. Sau đình cũng có 1 ao lớn, bờ ao được kè đá ong, Nổi trên ao đó là Nhà bia liệt sĩ. Bên phải đình là nơi hằng năm làng làm lễ hạ điền, vừa là nơi vui chơi của dân làng trong những ngày lễ hội, vừa là nơi trao đổi buôn bán của làng vào các buổi chiều hằng ngày.

-          Đình thờ Thượng đẳng thần Lý Phục Man, người có công giúp vua Lý Nam Đế lập lên nước Vạn Xuân ở thế kỉ VI và 3 vị Trung đẳng tối linh thần họ Đỗ (1). Và nhiều vị thần sông  thần núi khác… vì đình thờ nhiều vị thần, thánh nên có đến 7 cỗ kiệu, trong đó có 1 kiệu hình trái dứa để rước đức thánh Từ Đạo Hạnh (2) Các cỗ kiệu gỗ đề là những tác phẩm điêu khắc trạm trổ có giá trị cao.
-          Phần lớn các hạng mục công trình nói trên đều bị tiêu hủy trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Thực hiện chủ trương  tiêu thổ kháng chiến nhằm không cho địch chiếm đình làm nơi đóng quân bắn lại dân ta.
-          Năm 1951, dân làng đã tu sửa lần đầu tiên: Rỡ đại bái lên, làm tạm cung hâu. Năm 1953, được tu sửa lần thứ hai: Mua lại ngôi đình cũ về dựng lại (3). Năm 1991, tu sửa lần thứ ba: Làm thêm đại bái đình, tam quan, mua sắm thêm và phục chế lại các đồ thờ hoành phi, câu đối như cũ.

      Gian giữa đình treo 3 bức hoành phi chữ lớn: “Thánh cung vạn tuế” để suy tôn Thành Hoàng và ba chữ “ Hòa thả bình” để cầu mong sự hòa thuận trong dân; 4 chữ khen của vua Tự Đức “Mĩ tục khả phúng” (Dân có thói tốt đáng khen vậy)
Tại gian giữa đình có đôi câu đối ca ngợi ngôi đình làng:
“Nhất điểm tinh chung thiên nhật nguyệt
Thiên thu chính khí địa sơn hà”
Tạm dịch:
“Một ngôi sao sáng giữa trời
Nghìn năm đất tốt sang ngời núi sông”
                                Và 1 đôi câu đối ca ngợi Thành Hoàng:
                                                “Thánh đức tham tam chính khí thiên thu quang việt sử
Hoàng hàm cư ngũ anh linh vạn cổ điện hoàn sơn”
                                Đại ý:
                    “Đình thờ 5 vị Thành Hoàng anh linh, ba vị cố công lớn trong sử sách của nước Việt Nam”

Mấy hum về quê lục lọi lại quyển sách của ông, thấy có 2 bức ảnh đẹp quá nên chụp lại để chia sẻ cho mọi người. Cả 2 bức ảnh đều được chụp vào cuối năm 1999 đầu năm 2000. Do ngày ấy chụp bằng máy ảnh cơ rồi lại được in vào sách nên quá trình chụp lại và chỉnh sửa, tô son chát phấn cho 2 bức ảnh này cũng khá lâu, nên hum nay mới share cho mọi người được ^^!


 





Quá trình hình thành làng xã và những đặc điểm về địa lý dân cư
Canh Nậu là một xa ở phía Nam huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây cũ. Phía bắc giáp Hương Ngải, Phía Nam nối tiếp với xã Dị Nậu, Đông giáp thôn Thượng Hiệp xã Tam Hiệp ( Huyện Phúc Thọ), Tây giáp xã Chàng Sơn. Diện tích khu dân cư  khoảng 39,5ha ( tính đến năm 2000 – bi h thì chưa rõ ^^~) xóm làng ở trên 1 khu đất khá vuông vắn, diện tích đất canh tác gần 1022 mẫu Bắc Bộ (367,92 ha tính đến năm 2000- bi h chắc nhỏ hơn nhiều rồi :D).
Về Dân số
Năm 1945: 612 hộ 1833 khẩu; năm 1954: 878 hộ 3780 khẩu; năm 1975: 1216 hộ, 6783 khẩu; năm 1998: 2335 hộ, 11387 khẩu.
Xã có 4 thôn ( xưa gọ là “4 nậu” Nậu nhất – Nậu nhì – Nậu ba – Nậu hậu)
 Thôn 1 có 6 xóm là xóm Cổng, xóm Tre, Xóm Gỗ, xóm Thượng, xóm Trung và xóm Ngòi.
Thôn 2: có 7 xóm: xóm Cổng, xóm Núi Trong, xóm Chiền, xóm Nội Ngòi, xóm Thanh Tiếu, xóm Dừa và xóm Điếm Đất.
Thôn 3 có 8 xóm: xóm Hạ, xóm Khế, xóm Chùa, xóm Đông, xóm Chéo, xóm Tây Thượng, xóm Tây Hạ, xóm Ngõ Trên, xóm Nội, xóm Ngoại, và xóm Bàn.
Thôn 4 có 6 xóm: xóm Đông, xóm Tây, xóm Vũng, xóm Chùa, xóm Trại, và xóm Muống.
Toàn xã có 52 dùng họ là: Họ Đặng, Họ Lê, Họ Bùi, Họ Trần, Họ Trịnh, và 39 họ Nguyễn, 5 họ Đỗ, 3 học Vũ.
Là một làng quê được hình thành sớm trong quá trình hình thành làng xã của vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Làng xưa có tên nôm gọi là kẻ Núc. Tê tự là Canh Nậu. Theo nghĩa chữ nho CANH là Cày, NẬU là Bừa. Canh Nậu là một làng quê lấy nghề nông  làm gốc.
Thuở sơ khai làng ở trên một vùng đất gồm những gò đống không cao, phía dưới là những bãi trũng, lầy, cỏ dại lau lạch, các ngòi rãnh nước chằng chịt. Tổ tiên ta xưa xuất phát từ vùng đồi núi trung du tiến về đồng bằng đã chọn khu đất cao làm nơi ở, rồi san gò lấp trũng để cấy lúa. Trải qua nhiều thế kỉ khai phá mới tạo nên những cách đồng, những khu ruộng bằng phẳng. Vào nửa đầu thế kỉ X, trước cách mạng tháng 8 không lâu, trên các cánh đồng và ven làng Canh Nậu còn tồn tại rất nhiều gò như gò Mả Chiền, Mả Ngà, Mả Trầu, Đồng Củ… Trong đó có gò đất rất rộng như Mả Chiền khá dài vào gò Thanh Tiếu. Theo thời gian mực nước ngày một rút xuống. Dọc các ngòi lạch hình thành các khu đồng gọi là “rộc”, các hố sâu gọi là chuôm. Trong làng thường còn có rất nhiều ao hồ, trại vườn hoang, nhất là các xóm ở rìa làng như Thanh Tiếu, Nội Ngòi, Ao Cả ( Nhưng bây giờ hầu như không còn nữa L ). Xung quanh các ngôi đình, quán chùa còn những khu đất rất rộng, cây cối um tùm, xug quanh làng có nhiều lũy tre xanh dày đặc bao bọc. Ra vào làng phải đi qua cổng. Làng có 4 cổng chính là Cổng Nhất, Cổng Nhì, Cổng Ba, và Cổng Hậu. Có 2 cổng phụ đó là Cổng Đồng Rền và Cổng Vững. các cổng làng được xây dựng kiên cố ( Vật liệu bằng đá ong), cánh cổng bằng gỗ dày chắc. Riêng mặt tiếp giáp với Bến Thôn và Dị Nậu là đường thôn, không có cổng.
Trước cách mạng tháng 8 – 1945, Canh Nậu là một xã thuộc TỔNG Hương Ngải, huyện Thạch Thất. Sau cách mạng tháng 8, Canh Nậu được sát nhập với các xã trong TỔNG Hương Ngải cũ gọi là khu, sau đổi tên thành xã,mang tên Hương Ngải. Đầu tháng 4 năm 1948, theo sự chỉ đạo của huyện làng Hương Ngải tách ra thành một xã riêng. Còn 3 làng Canh Nậu, Dị Nậu, Bến Thôn thành lập thành 1 xã mới mang tên Lam Sơn. Tháng 5 năm 1955, Canh Nậu lại được tách ra một lần nữa, tách khỏi Lam Sơn thành lập một xã riêng trở về với cái tên ban đầu là xã CANH NẬU.

Ghi chép lại: Pánh mì chấm Chinsu



Quê hương mỗi người chỉ một. Như là chỉ một mẹ thôi. Hai câu thơ của Đỗ Trung Quân đã thúc giục Nhóm CNC Team chúng tôi làm trang web http://hdhcanhnau.com.vn Vào Google đánh từ khóa “hội đồng hương” có đến 11.100.000 kết quả (0,32 giây). có thể tìm được rất nhiều thông tin về các Hội Đồng hương các tỉnh, thành phố, có Hội Đồng hương huyện, xã... có cả Hội Đồng hương của người Việt Nam ở nước ngoài… Thế nhưng Hội đồng hương Canh Nậu có xuất hiện trên trang tìm kiếm không?


Câu hỏi này đến bây giờ đã được trả lời bằng trang web: http://hdhcanhnau.com.vn.

Được sự nhất trí của các Anh bên Hội đồng hương Canh Nậu, Nhóm CNC Team đã phát triển 1 trang web mang tên "Hội đồng hương Canh Nậu". với mục đích: Là 1 trang web tin tức chính thống cung cấp các thông tin về xã Canh Nậu, các thông tin trong và ngoài nước, để các bạn có thể cập nhật và theo dõi các tin tức đã và đang diễn ra trong làng. 

Hiện tại đã có rất nhiều "hội" trong xã được lập ra, có thể có nhiều người biết thông tin về các hội, nhưng cũng có nhưng người không biết các thông tin của các hội diễn ra ntn. Vì vậy cũng mong muốn đây sẽ là 1 nơi tập hợp các "hội" trong làng. Nơi đây sẽ tập hợp các tin tức, hoạt động của các "hội".

Hy vọng rằng Trang web hdhcanhnau.com.vn từng bước đáp ứng điều mong mỏi đó. Mọi sự hợp tác với Ban Liên lạc để làm cho trang Web Đồng hương Canh Nậu đi vào cuộc sống đều rất được hoan nghênh và trân trọng...
Để giúp Ban Liên lạc Đồng hương Canh Nậu có thông tin, xin mời bà con đồng hương Canh Nậu trong và ngoài xã vui lòng liên hê với chúng tôi qua Email: lienhe.canhnau@gmail.com
Xin chân thành cảm ơn!